Hotline: 0936.288.112
 

Cá tra 7/2019 - Giá cá nguyên liệu tăng nhẹ so với tháng 6/2019 mặc dù bắt đầu bước vào thời gian gia tăng xuất khẩu do mức tồn kho ở mức cao

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG CÁ TRA THÁNG 7/2019 VÀ NỬA ĐẦU THÁNG 8/2019

Chuyển động về thị trường

- Sản lượng cá tra nguyên liệu trong tháng 7/2019 tiếp tục duy trì ở mức cao khoảng 127.000 tấn do thị trường chủ yếu thu mua hàng cá size lớn từ 1,4-1,6kg.

- Xuất khẩu cá tra của Việt Nam trong tháng 7/2019 (sơ bộ) đạt 74,1 nghìn tấn và 161,68 triệu USD, tương ứng giảm 6,38% về lượng và giảm mạnh 21,22% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018.

- Do sản lượng đạt mức cao trong khi xuất khẩu suy giảm liên tục từ tháng 3-7/2019 và xuất khẩu đường tiểu ngạch đi thị trường Trung Quốc bị “đóng băng” kể từ tháng 6/2019 nên tồn kho cá tra nguyên liệu được tích lũy dần, đến cuối tháng 7/2019 đạt mức cao khoảng 69 nghìn tấn.

- Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang, ngành thủy sản dự kiến chịu tác động rất khó lường.

- Xuất khẩu cá tra của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong tháng 7/2019 là tháng đạt mức cao nhất kể từ năm 2013 đến nay.

- Giá cá nguyên liệu thời điểm cuối tháng 7/2019 và đầu tháng 8/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng 6/2019 khoảng 300-500 đ/kg mặc dù bắt đầu bước vào thời gian gia tăng xuất khẩu do mức tồn kho ở mức cao.

- Giá cá giống trong tháng 7/2019 khá rẻ (chỉ 17-20.000 đ/kg so với mức 50-60.000 đ/kg của vụ trước, mẫu 30 con/kg) nên các hộ nuôi sau khi xuất bán cá thịt vẫn thả lại hết các ao, không nhiều trường hợp bỏ nuôi cá tra hàng loạt khi giá sụt giảm mạnh như những năm trước đây.

- Tồn kho cá tra cuối tháng 7/2019 ở mức cao nhưng dự kiến giảm dần trong quý 3/2019. Thị trường kỳ vọng vào những chuyển biến tốt hơn trong quý 3/2019 với dự kiến lượng xuất khẩu đạt khoảng 215-225 nghìn tấn (tăng 8-18 nghìn tấn so với quý 2/2019).

 

DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CÁ TRA
1. Sản xuất

Theo AgroMonitor, sản lượng cá tra nguyên liệu trong tháng 7/2019 tiếp tục duy trì ở mức cao khoảng 127.000 tấn do thị trường chủ yếu thu mua hàng cá size lớn từ 1,4-1,6kg. Qua đó, nâng tổng sản lượng cá tra trong 7 tháng đầu năm 2019 lên mức 798.000 tấn, tăng 3,43% so với cùng kỳ 2018. Tuy nhiên, đây có thể là tháng có sản lượng thu hoạch cá tra lớn nhất trong năm nay khi thị trường đã bắt đầu bước vào giai đoạn khó khăn trong nuôi trồng với những diễn biến thời tiết kém thuận lợi hơn so với nửa đầu năm.

Sản lượng cá tra trong 7 tháng 2019 tăng 3,43% so với cùng kỳ 2018, tấn

Nguồn: AgoMonitor

Sản lượng tháng 8,9/2019 là ước tính. Giá trị min, max và average tính trong giai đoạn từ 2012-nay

 

Tương quan: giá cá giống, cá thịt và diện tích thả nuôi mới cá thịt từ tháng 1/2017-8/2019 (Cập nhật 10/8/2019): Trong tháng 7/2019, giá cá giống duy trì mức thấp nhưng nhu cầu bắt giống để thả lại cá thịt cho vụ tới vẫn có, rất ít trường hợp bỏ nuôi cá tra vì giá giảm như trước đây

Nguồn: AgoMonitor

 

2. Giá cá tra nguyên liệu – giá cá giống và giá xuất khẩu
2.1. Giá cá tra nguyên liệu tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ

Trong nửa đầu tháng 7/2019, nguồn cung cá nguyên liệu cỡ trên 1kg vẫn ở mức cao, tuy nhiên cá nguyên liệu cỡ dưới 800gr lại có chiều hướng suy giảm và hút hàng khi thị trường Trung Quốc bắt đầu ăn lại nhiều size này bên cạnh size phổ biến từ 1,4-1,6kg. Ngoài ra, thời điểm này bắt đầu xuất hiện mưa nhiều hơn làm tăng bệnh gan-thận-mủ, xuất huyết khiến tình hình thu mua trở nên khó khăn hơn. Một số ao kiểm cá không đạt phải xử lý thêm 1-2 tuần thuốc và cho ăn đều hơn để đảm bảo yêu cầu của nhà máy. Do đó, giá cá nguyên liệu cỡ dưới 800gr có dấu hiệu quay đầu tăng giá nhẹ trở lại mức 21.000 đ/kg (hộ nuôi liên kết, trả chậm), còn lại cá nguyên liệu cỡ 1,4-1,6kg vẫn ổn định ở mức 20-20.500 đ/kg (hộ liên kết).

Về nửa cuối tháng 7/2019 và đầu tháng 8/2019, thị trường cá tra nguyên liệu tiếp tục có xu hướng tăng nhẹ về giá do lượng cá nhà của các doanh nghiệp có chiều hướng giảm lại, làm tăng nhu cầu mua cá ngoài mặc dù công suất các nhà máy hầu như không tăng vì lượng tồn kho hàng hóa vẫn còn ở mức cao. Theo đó, cả cá nguyên liệu trong size 800-900gr và cá nguyên liệu size lớn từ 1,1-1,3kg tại Hồng Ngự (Đồng Tháp), Châu Phú (An Giang) và Thốt Nốt (Cần Thơ) đều tăng từ 300-500 đ/kg lên quanh mức 20.500 đ/kg (tiền mặt) hoặc 21.000 đ/kg (trả 20-30% tiền mặt và 70-80% trả chậm sau 2-4 tuần). 

Diễn biến giá cá tra nguyên liệu size 700-900 gr/con tại ĐBSCL tháng 1/2017-8/2019

Nguồn: AgoMonitor

2.2. Giá cá tra giống tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ

Vào khoảng giữa tháng 7/2018, mùa nước đã đổ về nhiều, trong khi đó đến đầu tháng 8/2019 vẫn chưa thấy có hiện tượng nước đổ dẫn tới thiếu hụt nguồn nước có thể khiến cho tình hình nuôi cá tra giống, cá tra thịt gặp khó khăn hơn. Nhưng nhìn chung do giá cá giống trong tháng 7/2019 khá rẻ (chỉ 17-20.000 đ/kg so với mức 50-60.000 đ/kg của vụ trước, mẫu 30 con/kg) nên các hộ nuôi sau khi xuất bán cá thịt vẫn thả lại hết các ao, không nhiều trường hợp bỏ nuôi cá tra hàng loạt khi giá sụt giảm mạnh như những năm trước đây. Về tình hình dịch bệnh trên cá giống hiện vẫn lai rai các bệnh nhẹ như: phù đầu, xuất huyết, gan-thận-mủ… chủ yếu do thời tiết mưa nhiều.

Đến đầu tháng 8/2019, do ảnh hưởng của bão số 3, người dân thả bột để ương giống nhưng khó đậu. Nguồn cung giống tại khu vực Cần Thơ, Hậu Giang xuống mức thấp, khiến các thương lái tìm mua và đẩy giá giống tăng khá mạnh khoảng 3-4.000 đ/kg so với tháng 7/2019 lên mức 22-24.000 đ/kg (mẫu 30 con/kg, ao lượng trên 10 tấn). Trong khi đó, tại Hồng Ngự (Đồng Tháp), Châu Thành (An Giang) giá cá giống chỉ tăng nhẹ khoảng 1.000 đ/kg lên mức 19-21.000 đ/kg (mẫu 30 con/kg) do vẫn còn đủ nguồn giống.

Diễn biến giá cá giống loại 30 con/kg tại ĐBSCL từ 1/2017-8/2019

Nguồn: AgoMonitor

2.3. Giá cá tra xuất khẩu theo chủng loại vào một số thị trường (Mỹ, Trung Quốc, EU…)

Giá xuất khẩu cá tra bình quân theo chủng loại vào một số thị trường (Mỹ, Trung Quốc, EU…)

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên SLHQ

3. Xuất khẩu cá tra của Việt Nam

Xuất khẩu cá tra của Việt Nam tháng 7/2019 giảm 6,38% về lượng và giảm mạnh 21,22% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Xuất khẩu cá tra của Việt Nam trong tháng 7/2019 (sơ bộ) đạt 74,1 nghìn tấn và 161,68 triệu USD, tương ứng giảm 6,38% về lượng và giảm mạnh 21,22% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế xuất khẩu cá tra của Việt Nam trong 7 tháng 2019 đạt 461.465 tấn với kim ngạch đạt 1,12 tỷ USD, tương ứng giảm 4,5% về lượng và 6,5% về giá trị so với cùng kỳ 2018.

Về chủng loại, trong 7 tháng năm 2019, tỷ trọng xuất khẩu cá tra fillet đông lạnh, cá tra cắt khúc và cá tra fillet tẩm bột tăng lần lượt 2,6%, 0,3% và 0,4% so với cùng kỳ năm 2018. Ngược lại, cá tra nguyên con đông lạnh giảm 2,2% và các loại cá tra khác giảm 0,9%.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam từ tháng 1/2018-7/2019

Nguồn: TCHQ

uất khẩu cá tra năm 2018-2019 (Cập nhật 30/7/2019)

Tháng

2018

2019

% thay đổi về

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

1

71,991

168,555,737

75,978

210,907,869

5.54

25.13

2

38,579

90,505,960

39,235

100,996,096

1.70

11.59

3

73,062

173,596,196

65,312

162,543,956

-10.61

-6.37

4

68,439

174,802,009

60,914

143,122,642

-11.00

-18.12

5

73,691

185,832,906

73,423

174,288,154

-0.36

-6.21

6

78,229

205,046,098

72,502

172,113,533

-7.32

-16.06

7

79,147

205,241,300

74,101

161,682,908

-6.38

-21.22

8

84,600

214,179,960

   

-

-

9

73,147

182,893,720

   

-

-

10

84,143

226,258,085

   

-

-

11

74,115

218,530,429

   

-

-

12

77,594

219,388,011

   

-

-

Tổng cộng

876,738

2,264,830,409

461,465

1,125,655,158

-47.37

-50.30

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên SLHQ

Tỷ trọng lượng xuất khẩu theo chủng loại cá tra 7 tháng 2019 so sánh với cùng kỳ 2018 (%)

Chủng loại

Tỷ trọng

Tăng/giảm (%)

7T/2019

7T/2018

Cá tra fillet đông lạnh

86.4

83.8

2.6

Cá tra nguyên con đông lạnh

9.1

11.3

-2.2

Cá tra cắt khúc đông lạnh

2.1

1.7

0.4

Cá tra fillet tẩm bột đông lạnh

0.5

0.2

0.3

Cá tra khác

2

2.9

-0.9

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên SLHQ

4. Thị trường xuất khẩu lũy kế 5-6-7/2019

Top 20 thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất lũy kế 5-6-7/2019

Thị trường

Lũy kế 5-6-7/2019

Lũy kế 2-3-4/2019

% thay đổi về

Lượng, tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng, tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

China

78,993

166.67

42,312

94.15

86.69

77.01

USA

20,548

78.19

10,992

46.76

86.94

67.22

Mexico

8,475

16.70

8,972

20.18

-5.55

-17.26

Thailand

8,197

16.64

8,069

17.55

1.59

-5.15

Colombia

6,512

10.30

5,284

9.71

23.26

6.06

UAE

6,158

10.87

5,135

9.71

19.91

11.97

Singapore

5,676

13.42

4,488

11.52

26.48

16.49

HongKong

5,583

12.96

4,405

11.23

26.76

15.43

Egypt

5,092

10.35

3,852

8.77

32.20

18.11

Philippines

5,077

8.23

7,173

12.06

-29.22

-31.74

Malaysia

4,976

8.75

6,265

12.67

-20.57

-30.93

Netherlands

4,838

14.62

4,786

15.66

1.10

-6.68

UK

4,285

13.96

3,801

13.92

12.73

0.29

Bahrain

3,919

7.49

674

1.49

481.42

402.65

Canada

3,796

10.31

3,506

10.75

8.28

-4.09

India

3,612

5.91

3,373

5.48

7.10

7.90

Brazil

3,020

8.72

3,423

10.24

-11.77

-14.85

Australia

3,018

9.24

3,165

10.17

-4.62

-9.16

Taiwan

2,697

5.11

2,166

4.61

24.51

10.75

Japan

2,445

8.60

2,061

7.04

18.67

22.22

Khác

33,107

71.03

31,561

72.98

4.90

-2.68

Tổng

220,026

508.08

165,461

406.66

32.98

24.94

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên SLHQ

Top 5 khu vực nhập khẩu cá tra lớn nhất lũy kế 5-6-7/2019

Thị trường

Lũy kế 5-6-7/2019

Lũy kế 2-3-4/2019

% thay đổi

Lượng, tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng, tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

Bắc Mỹ

32,819

105.20

23,470

77.69

39.84

35.40

Asean

24,366

47.77

26,215

54.17

-7.05

-11.80

EU

22,702

62.25

21,953

66.86

3.41

-6.89

Trung Đông

21,105

39.81

14,185

29.33

48.78

35.74

Nam Mỹ

10,834

21.87

10,144

23.16

6.80

-5.56

Khác

108,199

231.17

69,493

155.45

55.70

48.71

Tổng

220,026

508.08

165,461

406.66

32.98

24.94

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên SLHQ

 

PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Những tin nổi bật trong tháng 7/2019

+ Trước hiện trạng nhiều lô hàng thủy sản bị tồn đọng tại Móng Cái (6 tháng đầu năm 2019, trị giá xuất khẩu hàng hóa thủy sản qua cửa khẩu, lối mở tỉnh Quảng Ninh chỉ đạt 79,6 triệu USD, giảm 32,1% so với cùng kỳ năm 2018) và khó khăn chính sách biên mậu, thực hiện hàng rào phi thuế quan nhằm kiểm duyệt chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ, nhãn mác các mặt hàng nhập khẩu đối với các lô hàng thủy sản chuẩn bị thu hoạch. Tại ngày 24/7/2019, ông Bùi Văn Khắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các sở ban ngành có liên quan tham gia đàm phán với phía Trung Quốc giãn thời gian thực hiện bảo quản hàng hóa đối với mặt hàng thủy sản bằng phương pháp bảo quản như trước (cấp đông, ướp đá); tháo gỡ vướng mắc về chứng thư kiểm dịch đối với các lô hàng chưa có chứng thư (Thoibaotaichinhvietnam).

+ Nhập khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 của thị trường Trung Quốc tăng 32% so với cùng kỳ năm 2018, lên mức 7,03 tỷ USD. Nguyên nhân sản lượng tăng lên một phần do chính sách siết chặt đường biên giới Tây Nam của Trung Quốc với Việt Nam làm giảm thiểu những lượng hàng không có giấy tờ. Kể từ khi có những chính sách siết chặt hơn đường tiểu ngạch bằng các biện pháp cứng rắn, Trung Quốc đã trải qua một sự thay đổi đáng kể trong dòng chảy thương mại đến các cảng nhập cảnh chính thức, như Quảng Châu, Thượng Hải và Thiên Tân. Mặt hàng cá tra fillet đông lạnh được thị trường Trung Quốc nhập khẩu số lượng lớn, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2018, lên mức 144 triệu USD. Nhập khẩu cá bơn đông lạnh tăng 44% so với cùng kỳ năm 2018, lên mức 159 triệu USD. Nhập khẩu cá hồi Atlantic tươi tăng 5% so với cùng kỳ năm 2018, lên mức 357 triệu USD.

Những loài thủy sản Trung Quốc nhập khẩu có trị giá hơn 100 triệu USD trong 6 tháng đầu năm 2019

Sản phẩm

Giá trị (triệu USD)

Thay đổi

Cá hồi Đại Tây Dương tươi

357

5%

Cá tuyết đông lạnh

337

-12%

Tôm nước lạnh đông lạnh

121

-12%

Nes cá đông lạnh

353

53%

Cá dẹt đông lạnh

169

9%

Cá bơn đông lạnh

159

44%

Cá thu đông lạnh

110

46%

Fillet cá tra đông lạnh

144

27%

Mực và mực đông lạnh

421

57%

Tôm nước ấm đông lạnh

1,555

223%

Tôm hùm Mỹ sống / tươi

239

9%

Cua sống / tươi

413

1%

Tôm hùm đá sống / tươi

530

15%

Data from ITC, compiled by Undercurrent News

 

+ Trung Đông là khu vực được đánh giá là quan trọng và đáng lưu ý cho các doanh nghiệp cá tra Việt Nam trong năm 2019. Nhưng cho tới nay, thị trường Saudi Arabia (trước đây là thị trường lớn nhất khu vực Trung Đông) vẫn chưa được mở cửa trở lại, đây là một thiệt thòi lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam trong thời gian qua. Từ tháng 1/2018, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Saudi Arabia (SFDA) tạm đình chỉ nhập khẩu các sản phẩm cá, giáp xác và các sản phẩm thủy sản khác từ Việt Nam. Lý do của việc tạm đình chỉ này được đưa ra căn cứ vào “Báo cáo quý về tình hình dịch bệnh thủy sản khu vực Thái Bình Dương” của Tổ chức OIE và trên kết quả chuyến công tác của SFDA tại Việt Nam vào cuối năm 2017.

Đến nay, thị trường này vẫn tiếp tục dựng rào cản thương mại đối với cá tra Việt Nam khi gia tăng tiêu chuẩn về “Chương trình chăn nuôi Halal” khi áp dụng với cả các sản phẩm thức ăn chăn nuôi và cơ sở sản xuất giống, chứ không riêng gì đối với sản phẩm nhập khẩu. Hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra vẫn đang trông chờ vào các động thái tích cực từ phía Saudi Arabia để hoạt động xuất khẩu được bình thường trở lại.

Hiện nay, UAE đang là “điểm ngắm” của một số nguồn cung cá tra Đông Nam Á, trong đó có Indonesia. Indonesia đã nhận thấy tiềm năng xuất khẩu tại Trung Đông và có ý định cạnh tranh với cá tra Việt Nam khi ra mắt thương hiệu cá tra Indonesia tại UAE - thị trường cửa ngõ tại khu vực này.

Lượng xuất khẩu cá tra vào thị trường Saudi Arabia từ 1/2015-7/2019, tấn

Thị trường/Năm

Tháng

2015

2016

2017

2018

2019

Saudi Arabia

1

2,264

2,467

2,318

2,873

 
 

2

1,767

1,768

2,558

2,536

153

 

3

2,984

2,770

3,650

76

 
 

4

3,142

2,759

3,478

   
 

5

4,067

3,097

3,332

26

 
 

6

3,980

2,882

2,476

   
 

7

3,076

4,204

3,167

 

313

 

8

3,956

3,436

3,271

   
 

9

3,014

3,418

2,693

   
 

10

2,636

3,036

3,156

   
 

11

2,863

2,773

2,642

   
 

12

3,467

3,189

2,011

   

Tổng

 

37,215

35,800

34,752

5,511

466

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên SLHQ

Phụ lục 2: Nhập khẩu cá da trơn và cá rô phi của thị trường Mỹ trong 6 tháng 2019 (NOAA)

Nhập khẩu cá da trơn của thị trường Mỹ trong 6 tháng 2019

Theo NOAA, trong tháng 6/2019, nhập khẩu cá da trơn của thị trường Mỹ tiếp tục giảm 20,77% về lượng và 31,29% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Trong tháng 6/2019 Mỹ chỉ nhập khẩu cá da trơn từ thị trường Việt Nam và Trung Quốc. Trong đó, nhập khẩu từ thị trường Việt Nam giảm 16,24% về lượng và 27% về giá trị.

Lũy kế trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cá da trơn của Mỹ đạt 42,73 nghìn tấn và 192 triệu USD, tương ứng giảm 4% về lượng nhưng tăng 6,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu từ thị trường Việt Nam giảm 2,39% về lượng nhưng tăng 9,68% về giá trị, chiếm hơn 95% tổng thị phần nhập khẩu cá da trơn của Mỹ.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá da trơn của Mỹ trong tháng 6/2019 so với cùng kỳ 2018

Thị trường

T6/2019

T6/2018

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Vietnam

6,132

23,178,525

7,321

31,746,221

-16.24

-26.99

China

220

1,101,736

697

3,593,224

-68.42

-69.34

Tổng

6,352

24,280,261

8,018

35,339,445

-20.77

-31.29

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu NOAA

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá da trơn của Mỹ trong 6 tháng 2019 so với cùng kỳ 2018

Thị trường

6T/2019

6T/2018

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Vietnam

40,688

181,766,617

41,684

165,718,253

-2.39

9.68

China

2,004

10,300,672

2,797

15,390,653

-28.34

-33.07

Taiwan

33

174,343

-

-

-

-

Thailand

4

18,947

3

21,225

22.71

-10.73

Guyana

-

-

17

73,715

-

-

Spain

-

-

0

2,141

-

-

Tổng

42,730

192,260,579

44,501

181,205,987

-3.98

6.10

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu NOAA

Nhập khẩu cá rô phi của thị trường Mỹ trong tháng 6 tháng 2019

Theo NOAA, trong tháng 6/2019, nhập khẩu cá rô phi của thị trường Mỹ giảm 3,03% về lượng và 8,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018; chủ yếu giảm nhập từ thị trường Trung Quốc. Cụ thể, trong tháng 6/2019 lượng nhập khẩu cá rô phi của Mỹ từ thị trường Trung Quốc đạt 10.231 tấn và kim ngạch gần 29,7 triệu USD giảm 5,22% về lượng và 15,19% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Lũy kế nhập khẩu cá rô phi của thị trường Mỹ trong 6 tháng 2019 đạt 76,4 nghìn tấn và 281,36 triệu USD, giảm 7% về lượng và 9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc suy giảm mạnh 12,27% về lượng và 15,77% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018, chỉ đạt 50,76 nghìn tấn, kim ngạch đạt 154,4 triệu USD.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá rô phi của Mỹ trong tháng 6/2019 so với cùng kỳ 2018

Thị trường

T6/2019

T6/2018

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

China

10,231

29,705,488

10,795

35,024,625

-5.22

-15.19

Taiwan

1,240

2,873,089

1,245

2,920,772

-0.37

-1.63

Honduras

720

4,255,808

638

3,607,117

12.79

17.98

Indonesia

569

3,769,757

455

3,045,389

24.96

23.79

Colombia

472

2,997,781

548

4,180,575

-13.83

-28.29

Costa Rica

442

2,883,651

384

2,751,251

15.25

4.81

Mexico

314

1,704,608

245

1,155,725

28.10

47.49

Vietnam

144

303,592

275

464,459

-47.60

-34.64

Brazil

82

413,913

29

172,698

181.79

139.67

Thailand

75

135,560

-

-

-

-

Khác

114

641,207

239

1,157,237

-52.49

-44.59

Tổng

14,402

49,684,454

14,852

54,479,848

-3.03

-8.80

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu NOAA

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá rô phi của Mỹ trong 6 tháng 2019 so với cùng kỳ 2018

Thị trường

6T/2019

6T/2018

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

China

50,757

154,396,614

57,856

183,301,338

-12.27

-15.77

Taiwan

6,587

17,181,998

5,561

13,553,855

18.44

26.77

Honduras

4,385

25,417,313

4,292

24,140,221

2.15

5.29

Indonesia

3,422

22,894,323

3,539

23,661,903

-3.31

-3.24

Colombia

3,127

20,323,161

3,497

27,109,753

-10.60

-25.03

Costa Rica

2,825

18,284,479

2,286

15,022,072

23.59

21.72

Mexico

2,188

11,870,125

1,656

9,081,029

32.16

30.71

Vietnam

789

1,763,112

1,010

1,856,305

-21.91

-5.02

Thailand

747

1,317,806

440

723,857

69.68

82.05

Ecuador

427

2,044,657

483

2,524,077

-11.42

-18.99

Khác

1,147

5,867,879

1,482

7,842,664

-22.61

-25.18

Tổng

76,399

281,361,467

82,102

308,817,074

-6.95

-8.89

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu NOAA

Phụ lục 3: Giá cám thủy sản của một số công ty

Bảng giá thức ăn cá da trơn (tra, basa) loại 26% đạm (đ/kg) (thanh toán ngay)

Tháng/DN

Việt Thắng

Cỏ May

Proconco

US FEED

Hoàng Long

Vina

Greenfeed

Pilmilco

Navifeed

Cargill/

Ewos

8/2019

11.010

11.430

11.200

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

7/2019

11.010

11.430

11.200

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

6/2019

11.010

11.430

11.200

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

5/2019

11.010

11.430

11.200

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

4/2019

11.010

11.430

11.200

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

3/2019

11.010

11.430

11.200

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

2/2019

11.010

11.430

11.400

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

1/2019

11.010

11.430

11.400

11.000

11.000

10.800

10.800

11.400

11.200

11.200

Nguồn: AgroMonitor

Bảng giá thức ăn cá có vảy loại 30% và 40% đạm (đ/kg):

Đạm

Tháng/DN

Cargill/

Ewos

Proconco

Tongwei

US FEED

Thăng Long

CP

Greenfeed

Việt Thắng

Hoàng Long (MeKong)

30%

8/2019

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

11.750 (28%)

14.000-14.200

7/2019

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

11.750 (28%)

14.000-14.200

6/2019

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

11.750 (28%)

14.000-14.200

5/2019

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

11.750 (28%)

14.000-14.200

4/2019

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

11.750 (28%)

14.000-14.200

3/2019

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

13.450-13.950

14.000-14.200

2/2019

12.000-12.300

12.000-12.300

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

13.650-14.150

14.000-14.200

1/2019

12.000-12.300

12.000-12.300

11.800-12.100

12.000-12.300

11.800-12.100

11.800-12.100

12.710

13.650-14.150

14.000-14.200

40%

8/2019

17.100-18.100

17.100-18.100

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.300

18.000

7/2019

17.100-18.100

17.100-18.100

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.300

18.000

6/2019

17.100-18.100

17.100-18.100

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.300

18.000

5/2019

17.100-18.100

17.100-18.100

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.300

18.000

4/2019

17.100-18.100

17.100-18.100

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.300

18.000

3/2019

17.100-18.100

17.100-18.100

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.300

18.000

2/2019

17.100-18.100

17.300-18.300

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.500

18.000

1/2019

17.100-18.100

17.300-18.300

16.900-17.900

17.200-18.100

16.900-17.900

16.900-17.900

18.350

18.500

18.000

Nguồn: AgroMonitor